Theo xưa thì có 6 lễ, phân ra như sau :

1.     Vấn danh ( hay là cầu thân )  

2.     Sơ vấn ( hay là lễ sỉ lời )   

3.     Ðại đăng khoa ( lễ đám hỏi )   

4.     Sỉ lời ( tức là lễ hỏi thăm nhà gái đòi hỏi những lễ vật, tiền nong thế nào )  

5.     Lễ nạp tài và thăm con dâu  

6. Lễ tiểu đăng khoa ( tức là lễ cưới )

Theo như  6 lễ cưới hỏi, muốn nói cho có văn vẻ thì có 6 lễ như sau :

1.- Lễ Nạp Thái

4.- Lễ Nạp Chưng hay là Nạp Lệ

2.- Lễ Vấn Danh

5.- Lễ Thỉnh Kỳ

3.- Lễ Nạp Cát

6.- Lễ Thân Nghinh

Ý nghĩa của 6 lễ này như sau:

1.- Lễ Nạp Thái

Theo tục lệ Trung Hoa thì sau khi nghị hôn rồi, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn". Sở dĩ đem chim nhạn là vì chim nhạn là loài chim rất chung tình, không sánh đôi hai lần. Tương truyền rằng loài chim nhạn rất thảo ăn, khi chúng nó gặp mồi thì kêu nhau ăn chung, vừa lúc đẻ trứng thì khi nở thế nào cũng có một con trống và con mái mà thôi. Khác với các loại chim khác, chim nhạn khi có một con chết thì một con còn lại cũng buồn rầu mà chết theo. Sau này, người Trung Hoa nào còn theo cổ lễ thì chỉ dùng ngỗng thay thế cho chim nhạn. (Loài ngỗng tuy ngông nghênh, nhưng rất chung tình).

2.- Lễ Vấn Danh

Là hỏi tên và họ của cô gái là gì, được bao nhiêu tuổi, đã có hứa hôn với ai chưa.

3.- Lễ Nạp Cát

  Là sắm sửa lễ phẩm đem sang nhà gái cầu hôn. Tùy theo nhà giàu thì lễ quí, còn nghèo thì chút đỉnh gọi là.

4.- Lễ Nạp Chưng

 Lễ Nạp Chưng hay là Lễ Nạp Tệ ("chưng" nghĩa là chứng, "Tệ" nghĩa là lụa) là lễ đem hàng lụa hay vật phẩm quí giá đến nhà gái làm tang chứng cho sự  hứa hôn chắc chắn, rồi chỉ chờ ngày cưới dâu.

5.- Lễ Thỉnh Kỳ

Là Lễ xin định ngày giờ làm Lễ Cưới, nhưng ngày giờ cũng do bên trai định, rồi hỏi lại ý kiến bên gái mà thôi, song thế nào nhà gái cũng tùy ý bên trai.

6.- Lễ Thân Nghinh

 Là đã được nhà gái ưng thuận, ngày giờ đã định của bên trai. Bên trai đem lễ vật sang làm lễ rước dâu về.

 Ðây là hoàn toàn sáu lễ theo tục lệ xưa mà ngày nay đã gia giảm bớt rất nhiều.